Quản lý mầu (phần 1)

Color profiles (khái niệm cơ bản về color profile, input, output)

Color Profiles: Là những thông tin mầu sắc trong từng khu vực mầu của tấm ảnh, được đính kèm theo file ảnh, ngoài ra còn được setup trong các chương trình software dùng edit ảnh, hoặc được đính kèm trong các firmware của những hardware như máy in, máy scan, hoặc máy ảnh digital v.v…
(Khái niệm các vùng mầu theo hình dưới)

VNNPhoto

Theo hình khái niệm các vùng mầu ở trên: Chúng ta thấy vùng mầu sRGB, nhỏ hơn vùng mầu Adobe RGB nên nằm gọn phía trong vùng mầu Adobe RGB. Vùng mầu Adobe RGB, nhỏ hơn vùng mầu Prophoto RGB nên nằm gọn phía trong vùng mầu Prophoto RGB.
Chọn và setup vùng mầu Adobe RGB cho chương trình edit ảnh, tấm ảnh sau khi edit chuyển đổi xuống vùng mầu sRGB, CMYK rất dể dàng, còn chuyển đổi ngược lại hình sẽ bị vỡ hạt mầu. (noise color)
Khi mang một tấm ảnh đi in, thường phải chuyển đổi sang profile của máy in, máy in mới đọc được chính xác vùng mầu trong tấm ảnh, còn tấm ảnh không có profile máy in không có thông số màu sắc từ profile của tấm ảnh, máy in sẽ mô phỏng theo profile của mình và tự động điều chỉnh mầu sắc.

Input

Đưa một tấm ảnh vào computer chúng ta phải dùng scanner, hoặc từ máy ảnh digital cameras, theo tiêu chuẩn mầu chúng ta nên setup cho sensors máy ảnh digital cameras hoặc scaners, nhận tấm ảnh vào theo chuẩn Adobe RGB.

VNNPhoto

Khi chụp RAW file nên setup cho máy ảnh digital cameras nhận ảnh bằng vùng mầu Adobe RGB, ngoại trừ dùng file JPEG setup theo chuẩn sRGB (lý do nghề nghiệp cần xử lý nhanh)

Software edit

Chương trình edit ảnh Adobe Photoshop, cũng nên setup làm việc trong vùng mầu Adobe RGB, để sẵn sàng làm việc với những file ảnh, có profile đang cùng trong vùng mầu Adobe RGB.
Setup vùng mầu Adobe RGB cho chương trình Adobe Photoshop:
Mở chương trình Adobe Photoshop: Trên hàng menu bar chọn Edit => Color Settings…
(theo hình dưới)

VNNPhoto

Trong khung Settings của windows Color Settings: Tìm và chọn North America Prepress 2
(theo hình dưới)

VNNPhoto

Trong khung Working Spaces: (môi trường làm việc với mầu sắc)
RGB: Giữ nguyên mặc định là Adobe RGB (1998)
CMYK: Giữ nguyên mặc định là U.S. Web Coated (SWOP) v2
Gray: Tìm chọn Gray Gamma 2.2
Spot: Giữ nguyên mặc định là Dot Gian 20%
Trong khung Color Management Policies:
RGB: Tìm chọn Convert to Working RGB (chương trình chuyển đổi các files ảnh input nhưng không có color profiles là Adobe RGB, chương trình sẽ chuyển thành Adobe RGB, tuy nhiên từ sRGB chuyển sang RGB mầu sắc không được hoàn hảo.)
CMYK: Giữ nguyên mặc định là Preserve Embedded Profiles
Gray: Tìm chọn Convert to Working Gray
Ba Option sau giữ chọn mặc định:
Profile Mismatches:
Chọn: Ask When Opening và Chọn: Ask When Pasting.
Missing Profiles:
Chọn: Ask When Opening.
Trong khung Conversion Options:
Engine: Giữ nguyên mặc định là Adobe (ACE)
Intent: Tìm chọn Perceptual (option dùng trong môi trường pixel images).
Ba Option sau giữ chọn mặc định:
Chọn: Use Black Point Compensation
Chọn: Use Dither (8-bit/channel images)
Chọn: Compensate for Scene-referred Profiles
Trong khung Advanced Controls: Giữ mặc định.
(Setup theo hình dưới)

VNNPhoto

Nhấn nút Save…
Trong khung Save in: Giữ nguyên mặc định là folder Settings
File name: VNNPhoto (tuỳ theo bạn đặt tên)
Format: Giữ nguyên mặc định là Color Settings (*.CSF)
Nhấn nút: Save.
(Setup theo hình dưới)

VNNPhoto

Nhấn nút OK.
(theo hình dưới)

VNNPhoto

Sau khi nhấn OK, bảng Color Settings sẽ có những thông tin theo như đã setup ở phần trên.
(theo hình dưới)

VNNPhoto

Nhấn nút OK hoàn tất setup color profile cho chương trình Adobe Photoshop.
Trong thời gian sử dụng color profile của chương trình, vì bất cứ lý do gì bị thay đổi, hoặc muốn kiểm tra chương trình có đang trong tình trạng dùng đúng profile như đã setup.
Trên hàng menu bar chọn Edit => Color Settings…

VNNPhoto

Trong window Color Settings:
Trong khung Settings: Tìm chọn profile tên VNNPhoto (tên đặt cho color profile khi setup)
(theo hình dưới)

VNNPhoto

Nhấn OK hoàn tất kiểm tra profile chương trình Adobe Photoshop.
RAW files ảnh đưa vào máy computer với định dạng profile là Adobe RGB, chương trình edit ảnh Adobe Photoshop đã được setup làm việc trong vùng mầu Adobe RGB, sẽ đọc được dễ dàng profile của files ảnh bạn input vào, chương trình không phải chuyển đổi profile gây ra hiện tượng noise color.

Monitor Output.

Một file ảnh khi dùng bất kỳ chương trình nào edit, file ảnh đó phải được output ra màn hình thì mới có thể edit được, sau khi file ảnh được edit hoàn chỉnh sẽ cho output ra printers để in, hoặc lưu hành trên internet.
Output ra màn hình máy tính, theo các thể loại monitor CRTs hay LCDs.
Files ảnh khi output ra màn hình sẽ được mặc định chuyển đổi theo profile của từng hãng sản xuất monitor, trên thị trường mỗi hãng có một công thức thể hiện profiles RGB riêng khác nhau.
Nên phải cân chỉnh mầu sắc màn hình đồng bộ với printers, có nghĩa là khi nhìn tấm ảnh trên màn hình phải giống với tấm ảnh khi được in ra.
Dùng hardwares monitor calibration để cân chỉnh monitor, có rất nhiều dụng cụ trên thị trường như, Pantone Eye one Display2 Colorimeter, Color Vision Spyder3 Studio v.v…
Những dụng cụ nêu trên bao gồm một hardware và một software, hardware là một dụng cụ gắn ngoài monitor để đọc mầu từ bên ngoài monitor thay cho mắt người, sau khi chạy software để phân tích mầu trực tiếp từ file ảnh, software sẽ phân tích vùng mầu từ bên ngoài gửi vào, cộng với tín hiệu toán học đọc trực tiếp từ file ảnh, sau đó sẽ tạo ra một color profile cho monitor, thay cho nhiệm vụ cân chỉnh monitor thủ công.
Computer khi khởi động sẽ nạp cái profile của monitor, dùng đọc vùng mầu của chương trình Photoshop (khi dùng photoshop edit ảnh), hoặc đọc trực tiếp profiles của files ảnh không qua chương trình Photoshop (khi dùng windows mở file ảnh), đưa ra ngoài monitor mầu sắc tương đối trung thực, nên khi đem ảnh đi in cũng tương đối đồng bộ với monitor, ở đây tôi chỉ nói tương đối không có nghĩa là sẽ tuyệt đối đồng bộ giữa monitor và printer.
Cân chỉnh màn hình theo cách thủ công, dùng mắt mình thay cho những dụng cụ nêu ở trên, dùng một tấm ảnh đã in làm profile mẫu để tạo ra profile cho màn hình của mình mà khỏi phải mất vài trăm dollars, mà cũng tương đối đồng bộ giữa monitor và printer, cách làm như sau:
Trước tiên dùng một RAW file được chụp trong vùng mầu RGB, input vào chương trình Photoshop, chương trình Photoshop cũng đã được setup trong vùng mầu RGB.
Tấm ảnh được thể hiện ra màn hình monitor:
Nhìn tấm ảnh dưới, mầu xám hơi nhiều, độ tương phản sáng tối hơi cao, ánh sáng như không đủ, những điều đó nhìn thì thấy như vậy nhưng thực tế không phải vậy, bên trong RAW file được chụp trong vùng mầu RGB, tất cả mẩu sắc và ánh sáng nhìn thấy khi chụp vẫn còn đó, với điều kiện khi chụp không bị sáng quá hay tối quá làm mất chi tiết của ảnh.
(theo hình dưới)

VNNPhoto

Nhiệm vụ tiếp theo của người chụp ảnh là lấy lại mầu sắc và ánh sáng cũng như chi tiết của tấm ảnh, giống như khi người chụp hình nhìn thấy và thu hình vào ống kính, như vậy tấm ảnh trên phải được chỉnh lại sao cho giống như lúc người chụp ảnh thấy cảnh vật dưới ánh sáng hoàng hôn, chứ không phải với ánh sáng giống như gần tối như hiện nay.
Tấm ảnh sau khi được chỉnh lại và mang đến nhà in.
(theo hình dưới)

VNNPhoto

Sau khi in thì một vấn đề lại phát sinh, là tấm ảnh nhìn trên giấy khi in ra bị tối hơn hoặc sáng hơn, hay màu sắc không giống với tấm ảnh khi nhìn trên màn hình monitor.
Hình dưới là tấm ảnh trên giấy in, hơi thiếu sáng theo với ảnh nhìn trong màn hình khi dùng Photoshop edit. (Đây sẽ là tấm ảnh lưu trữ, dùng tạo profile cho màn hình monitor)
(hình dưới là tấm ảnh đã in trên giấy in)

VNNPhoto

Viet Pham

Additional information

Search